Chuyển tới nội dung

Đánh giá phát triển bền vững, ESG và kinh tế tuần hoàn của doanh nghiệp (phần 2): Bối cảnh Việt Nam

Đăng bởi Nguyet Tran

Đánh giá phát triển bền vững và ESG

Các thuật ngữ ESG (Môi trường, Xã hội, Quản trị) và phát triển bền vững (PTBV) cũng được sử dụng thay thế cho nhau tại Việt Nam. ESG hiện được đề cập nhiều hơn so với PTBV và kinh tế tuần hoàn (KTTH). Gần đây kinh tế tuần hoàn được nhắc đến nhiều như một động lực tăng trưởng, cùng với kinh tế xanh và kinh tế số.

Trong bối cảnh của doanh nghiệp, ESG được đề cập là chủ yếu, phần nhiều do áp lực thị trường như các nhà đầu tư, tổ chức tài chính và khách hàng quốc tế. Báo cáo PTBV và ESG chủ yếu được áp dụng bởi các nhà xuất khẩu, các tập đoàn quốc tế và các tập đoàn lớn theo yêu cầu của thị trường quốc tế nghiêm ngặt như EU, Mỹ và Nhật Bản. Đối với phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những khái niệm này còn tương đối mới. Các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện trụ cột S (xã hội) tốt nhất và gặp khó khăn với trụ cột E (môi trường) nhiều nhất trong báo cáo ESG. [1]

Tiêu chuẩn GRI và khung SDG là hai tiêu chuẩn được sử dụng nhiều nhất cho báo cáo về tính bền vững và ESG tại Việt Nam. Sự hiện diện và tầm quan trọng của GRI đã tăng lên khi phiên bản tiếng Việt đầu tiên được phát hành vào năm 2017 [1]. Tháng trước, 07/2026, GRI Việt Nam đã ra mắt phiên bản tiếng Việt mới nhất, bao gồm các tiêu chuẩn chung, lĩnh vực và chuyên đề. Chúng được cung cấp miễn phí để tất cả các doanh nghiệp tại Việt Nam; đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đều có thể tiếp cận. [2]

Các công ty trong nước có thể áp dụng hướng dẫn và tiêu chuẩn báo cáo PTBV và ESG (được cơ quan thẩm quyền công nhận), nếu họ muốn nhận được hỗ trợ từ các chương trình kinh doanh bền vững của chính phủ hay một số ưu tiên khác.

Từ năm 2015, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phát triển chỉ số PTBV doanh nghiệp (CSI) phục vụ cho việc đánh giá trong nước. Từ năm 2016, các công ty có thể  tham đăng kí tham gia chương trình đánh giá hàng năm. Sau khi đánh giá, kết quả sẽ được công bố công khai cho các công ty thực thi phát triển bền vững tốt nhất. Theo hướng dẫn chỉ số CSI 2020 của VCCI, CSI được phát triển dựa trên tham khảo các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam, tiêu chuẩn GRI, ISO 26000 và khung SDG. Nó bao gồm bốn trụ cột: Kinh tế, Môi trường, Xã hội và Quản trị.

Nhìn chung, báo cáo PTBV và ESG chưa phải là bắt buộc theo luật ở Việt Nam nhưng đang được áp dụng ngày càng nhiều dưới áp lực thị trường. Tuy nhiên, Việt Nam có nhiều luật quy định về các trụ cột E, S, G trong việc quản lý các doanh nghiệp [1].

Trong một số trường hợp cụ thể các công ty phải công bố thông tin ESG. Thông tư 96 (2020) của Bộ Tài chính đưa ra hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, bao gồm cả dữ liệu ESG. Thông tư 13 (2023) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) hướng dẫn cơ chế thực hiện “chương trình hỗ trợ doanh nghiệp bền vững giai đoạn 2022-2025” theo Quyết định 167 (2022). Chương trình mới giai đoạn 2026-2030 được quy định tại Quyết định 926 cũng mới được ban hành năm 2026. Thông tư 13 hướng dẫn đánh giá mô hình kinh doanh bền vững bao gồm kinh tế tuần hoàn, bao trọn và ESG. Hướng dẫn này được cụ thể hóa trong các cẩm nang dành cho cả ba mô hình kinh doanh đã được công bố.

Đánh giá kinh tế tuần hoàn

Việt Nam đã ban hành Phân loại Xanh theo Quyết định 21 (2025). Các dự án KTTH thuộc danh mục này. Hiện tại Việt Nam chưa có tiêu chuẩn KTTH riêng.

Khung pháp lý và các biện pháp thực hiện dự án KTTH được quy định trong Luật Môi trường 2020, Nghị định 08 (2022) và Quyết định 222 (2022). Tuy nhiên, tiêu chí đối với dự án KTTH chưa được định nghĩa rõ rẵng. “Chưa hình thành đồng bộ chỉ số, ngưỡng đánh giá, phương thức kiểm chứng và hệ thống hồ sơ chứng minh dự án thực hiện KTTH”. Cũng cần có các tiêu chí kỹ thuật cụ thể để đánh giá các dự án KTTH trong các lĩnh vực khác nhau. [3, 4]

Do đó, việc đánh giá và phân loại các dự án KTTH có thể thiếu rõ ràng và kém hiệu quả. Điều này có thể cản trở việc cấp tín dụng và đầu tư hiệu quả vào các dự án KTTH. Tác giả cho rằng, từ góc độ cạnh tranh thị trường và giá trị về mặt kinh doanh, cùng với các tài liệu hướng dẫn trong nước và quốc tế, các công ty có thể xem xét các tiêu chuẩn KTTH quốc tế hiện có, ví dụ: ISO 59000 (chưa được nội địa hóa thành tiêu chuẩn TCVN) và Bộ quy tắc về KTTH toàn cầu (GCP). Điều đó phụ thuộc vào mục tiêu và tầm nhìn của doanh nghiệp về chuyển đối sang mô hình kinh doanh KTTH.

Liệu Việt Nam sẽ sớm ban hành tiêu chuẩn cho các dự án phát triển bền vững?

Khung và tiêu chí xác định các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, ESG đang được hoàn thiện. Chúng được phát triển từ các quy định pháp luật hiện hành (tuân thủ pháp luật) và các tiêu chuẩn quốc tế như GRI, IFRS S1 & S2, Phân loại ASEAN, IFC, OECD (tự nguyện). Điều này sẽ đóng vai trò là nền tảng đánh giá minh bạch và hiệu quả hơn để hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh và tuần hoàn. Ví dụ về hỗ trợ bao gồm trợ cấp lãi suất ngân sách nhà nước hàng năm 2% và các chương trình tín dụng xanh khác. [3, 4]

Bài tiếp theo: So sánh trong khu vực – chuyển đổi kinh tế tuần hoàn tại Indonesia và Việt Nam

Tài liệu tham khảo

  1. UK PACT & AED/MPI (2024): Sản phẩm số 1: Sổ tay hướng dẫn khung triển khai ESG và lập báo cáo ESG
  2.  VnEconomy (07/2026). Đưa tiêu chuẩn “xanh” quốc tế tiếp cận với SME Việt Nam
  3.  VnEconomy (06/2026). Hướng dẫn xác định dự án xanh, đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung ESG
  4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Lần đầu tiên có khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị cho dự án

 

Về tác giả

Nguyet Tran

Nguyet Tran

Tư vấn độc lập: Kinh tế tuần hoàn - Phát triển bền vững