Chuyển tới nội dung

Đánh giá tính bền vững, ESG và tính tuần hoàn của doanh nghiệp (part 1): bối cảnh toàn cầu

Đăng bởi Nguyet Tran

Đánh giá tính bền vững và ESG

Tính bền vững là một khái niệm bao quát. Trong bài này, nó liên quan đến khái niệm phát triển bền vững được Ủy ban Brundtland của Liên Hợp Quốc định nghĩa vào năm 1987.

Tính bền vững của doanh nghiệp là sự cân bằng giữa các yêu cầu của các trụ cột môi trường, xã hội và kinh tế, hướng tới sự phát triển bền vững trong dài hạn. ESG bao gồm các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị. Các tiêu chí này thường trùng với ba trụ cột của tính bền vững. Tuy nhiên, chúng không phải là một. Tính bền vững tập trung vào các tác động từ “bên trong ra bên ngoài” của doanh nghiệp đối với thế giới (tính trọng yếu của tác động – impact materiality). ESG tập trung vào các tác động từ bên ngoài vào bên trong của thế giới đối với doanh nghiệp (tính trọng yếu về tài chính – financial materialy). Đối tượng chính của ESG là các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh trong chuỗi cung ứng và các cơ quan quản lý. Mục tiêu chính của ESG là tuân thủ. Bản chất của ESG là dựa trên dữ liệu. Đối tượng của tính bền vững rộng hơn, như nhân viên, khách hàng và cổ đông, công chúng và cộng đồng địa phương. Mục tiêu chính của tính bền vững thường là tường thuật góc nhìn (narrative). Bản chất của tính bền vững là hướng tới sứ mệnh. Sự khác biệt này cho thấy ESG có các tiêu chí và tiêu chuẩn cụ thể hơn so với tính bền vững. [1]

Một số nhà đầu tư hoặc đối tác kinh doanh yêu cầu cung cấp báo cáo ESG để hỗ trợ các quyết định đầu tư hoặc đấu thầu (mua sắm) trong chuỗi cung ứng của họ. Báo cáo tính bền vững và ESG hiện đại nhứ CSRD yêu cầu công bố cả tính trọng yếu về tài chính và tác động (tính trọng yếu kép).

ESG có thể hoạt động như một phạm trù của báo cáo bền vững.

Thực tế áp dụng

Trong thực tế, báo cáo bền vững và ESG thường được sử dụng thay thế cho nhau. Sau đây là ví dụ về các tiêu chuẩn và hướng dẫn toàn cầu có thể được sử dụng cho cả báo cáo bền vững và ESG, độc lập hoặc bổ sung cho nhau (được tổng hợp từ [1], [2], [3]): Sáng kiến ​​Báo cáo Toàn cầu (GRI), Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán Bền vững (SASB*), Tiêu chuẩn Báo cáo Bền vững Châu Âu (ESRS), Lực lượng Đặc nhiệm về Công bố Tài chính Liên quan đến Khí hậu (TCFD*), Hội đồng Tiêu chuẩn Công bố Khí hậu (CDSB*), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO), Dự án Công bố Carbon (CDP), Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc, Danh mục phân loại xanh Châu Âu (EU Taxonomy), v.v.

(* hiện thuộc ISSB – Hội đồng Chuẩn mực Báo cáo Bền vững Quốc tế).

Các nhà đầu tư, tổ chức tài chính và ngành công nghiệp có thể yêu cầu tuân thủ về tính bền vững và ESG khác nhau tùy thuộc vào tính chất của đầu tư và các lĩnh vực công nghiệp cụ thể. Các quốc gia cũng có các quy định và sáng kiến ​​khác nhau về tính bền vững và ESG dành cho các tập đoàn và doanh nghiệp [3]. Tương tự, việc áp dụng có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc tùy thuộc vào vùng địa lý, quy mô của doanh nghiệp và mục tiêu của nhà đầu tư, yêu cầu đầu tư tài chính và thời gian thực thi, v.v.

Ảnh được tạo bởi ChatGPT

Vai trò của kinh tế tuần hoàn trong các khung pháp lý, tiêu chuẩn và hướng dẫn về tính bền vững và ESG

Hiện nay, Châu Âu dẫn đầu về tiêu chuẩn hóa tính tuần hoàn cho nền kinh tế toàn cầu trong khuôn khổ Kế hoạch hành động kinh tế tuần hoàn và Thỏa thuận công nghiệp sạch. Tính tuần hoàn được coi là trụ cột cốt lõi của khả năng cạnh tranh công nghiệp trong Thỏa thuận công nghiệp sạch Châu Âu [2]. Kinh tế tuần hoàn thường nằm trong các yếu tố “Môi trường” của tính bền vững và ESG. Việc chuyển đổi sang các mô hình kinh doanh kinh tế tuần hoàn ngày càng được tích hợp không chỉ trong các báo cáo về tính bền vững và ESG mà còn được sử dụng như yêu cầu riêng, tùy thuộc vào nhu cầu cụ thể của nhà đầu tư, cơ quan quản lý và các ngành công nghiệp.

Ví dụ về các khung pháp lý, hướng dẫn, tiêu chuẩn về tính bền vững và ESG đề cập đến kinh tế tuần hoàn là Tiêu chuẩn Báo cáo Bền vững Châu Âu (ESRS – E5), Danh mục phân loại xanh Châu Âu (EU Taxonomy) và Sáng kiến ​​Báo cáo Toàn cầu (GRI). ESRS – E5 và EU Taxonomy yêu cầu tính tuần hoàn phải được công bố bắt buộc đối với các công ty thuộc phạm vi tuân thủ.

Bộ quy tắc chuẩn hóa toàn cầu về kinh tế tuần hoàn cho doanh nghiệp (Global Circularity Protocol for Business, 2025) và bộ tiêu chuẩn ISO 59000 cung cấp sự hài hòa về tiêu chuẩn liên quan đến tính tuần hoàn. “Bộ tiêu chuẩn ISO 59000 cung cấp kiến ​​trúc hệ thống quản lý (“Cách thức”) dựa trên sự đồng thuận công khai toàn cầu. Giao thức Tuần hoàn Toàn cầu (GCP) cung cấp logic hiệu suất thống nhất (“Tín hiệu”) dựa trên các thực tiễn tốt nhất trong ngành, đảm bảo dữ liệu có thể so sánh và sẵn sàng đầu tư xuyên biên giới.” [2]

Ngoài ra còn có một số tiêu chuẩn, hướng dẫn và chứng nhận kinh tế tuần hoàn bổ sung, ví dụ: CTI, C2C, B-Corp, TNFD (LEAP), IRIS+, IFRS (S1, S2) và ISO 14051. [2]

Tùy thuộc vào bối cảnh, các khung pháp lý, hướng dẫn, tiêu chuẩn và chứng nhận kinh tế tuần hoàn có thể áp dụng để đáp ứng các yếu tố “môi trường” và kinh tế tuần hoàn của tính bền vững và ESG hoặc các yêu cầu riêng.

Bài tiếp theo (phần 2): Đánh giá về tính bền vững của doanh nghiệp, ESG và kinh tế tuần hoàn: bối cảnh của Việt Nam

Trần Thị Nguyệt

Ghi chú:

  • Ảnh được tạo bởi Arena.ai và ChatGPT với câu lệnh từ Trần Thị Nguyệt
  • Bài này được dịch từ bản tiếng Anh với hỗ trợ của Google Dịch và đã hiệu chỉnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Green Business Benchmach (2024). ESG vs. Sustainability Reporting: Key Differences Explained
  2. Current-Sustainability (2026): Module 3. The core standards of the training “Beyond Compliance Drive change with the newest circular economy standards – Becoming a Certified Circular Analyst & Strategist supported by the GCP team and Circle Economy”
  3. State Securities Commission of Vietnam and International Finance Corporation (2013): Sustainability Reporting Handbook for Vietnamese Companies

Về tác giả

Nguyet Tran

Nguyet Tran

Tư vấn độc lập: Kinh tế tuần hoàn - Phát triển bền vững